TRẺ BỊ TIÊU CHẢY PHẢI LÀM SAO?

9

Tiêu chảy cấp là tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc phân toàn nước trên 3 lần mỗi ngày và kéo dài không quá 14 ngày. Riêng ở trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn, đi ngoài phân lỏng 5 – 6 lần mỗi ngày mà phân toàn nước thì mới được coi là tiêu chảy cấp.

Nhiều trường hợp tiêu chảy cấp ngắt quãng, tức là trẻ bị tiêu tiêu chảy nhưng xen kẽ có những ngày không bị tiêu chảy. Tổng số ngày tiêu chảy gọi là đợt tiêu chảy cấp.

Trẻ em lượng nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, nên nếu bị tiêu chảy cấp, đặc biệt có kèm theo nôn nữa thì nguy cơ mất nước và điện giải rất cao. Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em

– Nhiễm khuẩn đường ruột: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất, tác nhân có thể là vi khuẩn, vi rút, hoặc kí sinh trùng. Đường xâm nhập có thể từ thức ăn, nước uống, từ môi trường xung quanh, đồ dùng cá nhân, đồ chơi, thậm chí lây từ người thân hoặc bạn bè.

– Loạn khuẩn đường ruột: Cũng khá thường gặp, do lạm dụng kháng sinh hoặc sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn.

– Thức ăn: Rất grain gặp những trẻ mới ăn dặm, có thể do thức ăn không hợp vệ sinh gây nhiễm khuẩn tiêu hóa, cũng có thể do các thành phần của thức ăn không phù hợp khiến trẻ không hấp thu được chất dinh dưỡng.

– Một số nguyên nhân khác như: Dị ứng với thức ăn, bất dung nạp đường lactose, các bệnh đường ruột bẩm sinh,…

Biểu hiện khi bé bị tiêu chảy

– Tiêu chảy: Trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước, đi liên tục, nhiều lần trong ngày, có trẻ đi nhiều đến mức không đếm được. Có trẻ thì đi phân lỏng nhày mũi hoặc phân nhày có máu…. Tính chất phân và số lần tiêu chảy là dấu hiệu quan trọng để bác sĩ hướng tới nguyên nhân.

– Nôn: Nôn có thể xuất hiện trước khi xảy ra tiêu chảy, có thể nôn liên tục, tự nhiên nôn, nhưng thường xuất hiện nôn sau một kích thích như sau khi ăn hoặc uống nước. Tiêu chảy kèm nôn là yếu tố nặng, có nguy cơ mất nước rất cao.

– Biếng ăn: Trẻ bị tiêu chảy thường biếng ăn, không chịu ăn uống gì cả, grain quấy khóc.

– Đau bụng: Những trẻ lớn, đã nói được thì trẻ sẽ thường kêu đau bụng, đau liên tục, đau quặn thành từng cơn, hoặc đau khi mỗi lần đi ngoài, sau khi đi xong thì hết đau.

Hậu quả khi bé bị tiêu chảy

– Mất nước và điện giải:

Do tăng bài tiết nước và các chất điện giải vào lòng ruột, rồi từ trong lòng ruột đi ra ngoài, nên cơ thể sẽ bị mất nước và điện giải. Tình trạng này xảy ra rất sớm, ngay sau vài lần đi ngoài phân lỏng, nhưng chỉ có biểu hiện mất nước trên lâm sàng khi giảm đi 5% trọng lượng cơ thể.

Nếu mất nước mà giảm đến 10% trọng lượng cơ thể, có thể gây sốc giảm thể tích tuần hoàn. Còn mất trên 10% trọng lượng cơ thể có thể gây tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời.

– Chậm lớn, gầy sút cân:

Tiêu chảy cấp làm cho trẻ không ăn uống được, hoặc là ăn vào nôn ra hết, giảm hấp thu chất dinh dưỡng. Tình trạng này kéo dài làm chậm tăng cân, chậm lớn thậm chí gầy sút cân, ảnh hưởng cả đến phát triển về thể chất và trí tuệ.

– Còi xương, suy dinh dương:

Những trẻ grain bị tiêu chảy cấp, hoặc tiêu chảy cấp không được điều trị kịp thời gây tiêu chảy kéo dài có nguy cơ cao bị còi xương, suy dinh dưỡng, chậm lớn, chậm phát triển chiều cao.

– Suy giảm miễn dịch:

Tiêu chảy là nguyên nhân gây suy giảm sức đề kháng, làm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa.

Dấu hiệu mất nước do tiêu chảy ở trẻ em

Ở trẻ em khi bị mất nước do tiêu chảy có các biểu hiện:

– Quấy khóc, kích thích, vật vã

– Li bì, lờ đờ, mệt lả, ngủ gà, thậm chí hôn mê

– Trẻ kêu khát nước, đòi uống nước, và uống rất nhiều nước

– Quan sát trẻ có thể thấy mắt trũng, môi khô, mắt khô, khóc không có nước mắt

– Da nhăn nheo, khô da, giảm đàn hồi da (nếp véo da lâu trở lại trạng thái anathema đầu)

– Tiểu ít, thậm chí cả ngày không đi tiểu

Ở trẻ em, mất nước khi có biểu hiện trên lâm sàng là dấu hiệu nặng, thậm chí nguy hiểm. Vì vậy, lời khuyên với các bà mẹ hoặc người thân có criminal nhỏ bị tiêu chảy là hãy cho trẻ uống Oresol ngay khi bị tiêu chảy, cho uống ngay trước khi đưa trẻ đến cơ sở y tế. Việc bổ sung nước và điện giải trong nhiều trường hợp còn quan trọng hơn là điều trị nguyên nhân.

Các bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ có thể căn cứ vào bảng phân loại mức độ mất nước của Tổ chức y tế thể giới để đánh giá mức độ mất nước của trẻ, qua đó có thể tự điều trị tại nhà, hoặc nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để theo dõi và điều trị kịp thời.

Phân loại mức độ mất nước theo Tổ chức y tế thế giới (WHO)

Điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em

Bù nước và điện giải:

Điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em là phải bù nước và điện giải ngay ở những lần đi phân lỏng đầu tiên. Tùy theo mức độ mất nước mà biện pháp điều trị có khác nhau.

– Mất nước A:

Mất nước A điều trị bù nước theo phác đồ A, tức bù nước tại nhà. Cho uống oresol ngay sau mỗi lần đi phân lỏng với liều như sau:

+ Trẻ dưới 24 tháng: Uống  50 – 100ml

+ Trẻ từ 24 tháng – 5 tuổi: Uống 100 – 200ml

+ Trẻ trên 5 tuổi: Uống theo nhu cầu.

Dung dịch oresol hiện được bán rất rộng rãi, có nhiều loại. Thường là gói pha với 1 lít nước và gói pha với 200ml nước. Gần đên còn có loại dưới dạng nước đóng chai, có vị cam hoặc chanh rất dễ uống.

Nếu không có oresol có thể cho trẻ uống nước cháo, nước sôi để nguội pha thêm đường và muối, nước dừa theo liều như trên.

Nếu trẻ bị nôn thì cho uống ít một, uống từng thìa. Sau uống mà tiếp tục bị nôn, nghỉ khoảng 10 phút tiếp tục cho uống lại.

Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi thấy có một trong các dấu hiệu sau:

+ Trẻ quấy khóc, kích thích, vật vã

+ Trẻ khát nhiều, nôn nhiều

+ Đi ngoài phân tóe nước nhiều lần trong ngày

+ Đi phân lỏng có nhày máu

+ Tiêu chảy kèm sốt cao

+ Không có nước tiểu

+ Sau 2 ngày điều trị bù nước tại nhà tích cực mà không có tiến triển tốt.

– Mất nước B:

Mất nước vừa và nhẹ, grain mất nước có biểu hiện lâm sàng thì điều trị theo phác đồ B. Trường hợp này điều trị và theo dõi tại cơ sở y tế. Lượng oresol phải uống trong 4 giờ đầu tính như sau: Lượng oresol (ml) = cân nặng (kg) x 75.

Sau 4 giờ đánh giá lại tình trạng mất nước, nếu hết triệu chứng mất nước chuyển sang phác đồ A, trẻ còn dấu hiệu mất nước vừa và nhẹ thì tiếp tục điều trị theo phác đồ B, nếu nặng lên thì chuyển sang phác đồ C.

– Mất nước C:

Trường hợp mất nước nặng, phải được điều trị và theo dõi tại cơ sở y tế có thể thực hiện được truyền dịch đường tĩnh mạch. Theo phác đồ này phải bù nước và các chất điện giải theo đường tĩnh mạch. Truyền dịch phải tuyệt đối theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Dung dịch cơ bản trong điều trị mất nước ở trẻ là Ringer Lactate (hoặc Natri clorid 0,9%), với liều lượng là 100ml/kg cân nặng trong thời gian phân bố như sau:

+ Trẻ dưới 12 tháng: Truyền 30ml/kg trong 1 giờ đầu, sau đó truyền tiếp 70ml/kg trong 5 giờ tiếp theo.

+ Trẻ từ 12 tháng trở lên: Tuyền 30ml/kg trong 30 phút đầu, sau đó truyền tiếp 70ml/kg trong 2 giờ 30 phút tiếp theo.

Cứ mỗi 1 – 2 giờ đánh giá lại tình trạng bệnh một lần, tùy theo diễn biến mà tiến hành truyền tiếp tục. Nếu không thấy tiến triển tốt thì truyền nhanh hơn.

Chế độ dinh dưỡng:

Song strain với việc bù nước và điện giải, chế độ dinh dưỡng cho trẻ cũng rất quan trọng.

+ Cho trẻ ăn thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là giầu đạm như thịt, cá, tôm, cua,… để phòng suy dinh dưỡng

+ Tùy theo độ tuổi của trẻ mà có chế độ ăn phù hợp. Chẳng hạn trẻ dưới 6 tháng tuổi, tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống sữa công thức thường xuyên, thậm chí cho uống nhiều hơn. Với trẻ trên 6 tháng tuổi, vẫn cho ăn bình thường, cùng với bú mẹ và uống sữa.

+ Lưu ý là không phải kiêng bất kỳ loại thức ăn nào, miễn là thức ăn đó phải đảm bảo vệ sinh, an toàn, dễ ăn, dễ hấp thu.

Sử dụng group vi sinh:

Trong môi trường của đại tràng, các lợi khuẩn có khả năng tiêu diệt, lấn át và ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn có hại. Vi khuẩn có lợi còn tiết ra các poison hữu cơ, các chất diệt khuẩn, có tác dụng ức chế cả các vi khuẩn có hại.

Ngoài ra, các vi khuẩn có nhiệm vụ biến đổi các thức ăn chưa tiêu hóa hết ở ruột non thành các các loại vitamin, poison amin, các loại men, các chất dinh dưỡng khác,…. và sinh ra các khí NH3, CO2, H2S… Quá trình này gọi là lên group mà nhờ đó thức ăn được tiêu hóa hoàn toàn.

Sử dụng group vi sinh vừa giúp ổn định hệ vi sinh đường ruột, giúp tăng sức đề kháng, tăng cường hấp thu chất dinh dưỡng, ngăn chặn tình trạng tiêu chảy.

Vì vậy mà trong mọi trường hợp tiêu chảy cấp, cho trẻ uống group vi sinh là vô cùng quan trọng, phải uống group vi sinh sớm ngay từ khi mới bị tiêu chảy. Thậm chí có thể sử dụng thường xuyên, dùng kéo dài để dự phòng tiêu chảy.

Dùng thuốc trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em:

Thuốc kháng sinh không phải là lựa chọn thường quy trong điều trị tiêu chảy cấp. Có đến 95% các trường hợp tiêu chảy cấp được điều trị khỏi bằng bù nước, điện giải, uống group vi sinh và chế độ dinh dưỡng.

Sử dụng thuốc được chỉ định trong một số trường hợp cụ thể, như:

+ Thuốc kháng sinh: Chỉ định khi bị tiêu chảy do nhiễm lỵ trực trùng, tả, thương hàn…. Ngoài ra, thuốc kháng sinh cũng được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn khác gây tiêu chảy cấp như viêm phổi, viêm màng não, nhiễm trùng huyết.

+ Thuốc kháng điệt kí sinh trùng: Được chỉ định trong trường nhiễm lỵ amip, trùng roi….

+ Các loại thuốc không nên dùng trong điều trị tiêu chảy: Thuốc giảm nhu động ruột (Loperamid), thuốc chống nôn, các thuốc hấp phụ như actapulgite, smeta, một số thuốc kháng sinh như neomycine, streptomycine, sulfamide.

Tiêu chí lựa chọn group vi sinh cho trẻ em

Các chủng vi khuẩn có ích trong các group vi sinh đến 99% bị tiêu diệt bởi dịch vị dạ dày. Một group vi sinh tốt phải vượt qua được môi trường poison dạ dày, để có thể sống được đến tận đại tràng và phát huy tác dụng.

Men vi sinh GoldenLAB được bào chế bằng công nghệ LAB2Pro tiên tiến nhất hiện nay, có hai lớp bảo vệ. Lớp thứ nhất là màng bọc thế hệ thứ 4, bảo vệ các vi khuẩn trước sự tấn công của dịch vị dạ dày, giúp cho vi khuẩn có thể tồn tại, định cư và sinh sôi nảy nở cho đến tận đại tràng. Lớp thứ 2 là màng bảo vệ bên ngoài, giúp vi khuẩn chống lại các tác hại từ môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng,…

GoldenLAB chứa đồng thời 2 thành phần là vi khuẩn có lợi (probiotics) và chất xơ hòa tan (prebiotics) còn gọi là Fructose-Oligosaccharide (FOS). Prebiotics có tác dụng làm tăng nhu động ruột, hạn chế tình trạng tiêu chảy, hạn chế táo bón. Ngoài ra prebiotics còn là nguồn thức ăn hữu ích cho probiotics, điều này giúp hấp thu tối đa thức ăn, chất dinh dưỡng.

Một ưu điểm nữa của group vi sinh GoldenLAB là được bào chế từ kim chi Hàn Quốc, các thành phần hoàn toàn từ thiên nhiên, có thể sử dụng an toan cho trẻ từ tuổi sơ sinh.

Với những ưu điểm này mà group vi sinh GoldenLAB là lựa chọn hàng đầu trong phòng và điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em.

healthplus

Goldeb Lab

Bỏ Reply

Related Post